Ngay trước ngày 1/7/2025, tỉnh Quảng Ninh có mười ba đơn vị cấp huyện: năm thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Đông Triều, thị xã Quảng Yên và bảy huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Cô Tô, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Vân Đồn. Theo Nghị quyết 202/2025/QH15, Quảng Ninh không sáp nhập với tỉnh nào, vẫn giữ tên và tỉnh lỵ Hạ Long; từ 1/7/2025 cấp huyện được bỏ, hai huyện đảo Vân Đồn và Cô Tô trở thành đặc khu.
Quảng Ninh là tỉnh ở góc đông bắc, có cả núi, mỏ than, đồng bằng ven sông, hàng nghìn hòn đảo và một đường biên giới đất liền với Trung Quốc. Trong ba mươi năm cuối, bản đồ hành chính của tỉnh đổi khá nhiều: huyện lên thị xã, thị xã lên thành phố, một huyện nhập hẳn vào tỉnh lỵ. Bài này đi qua các lớp tên gọi ấy để người đọc giấy tờ cũ, người quê ở đây đi xa và người sắp đến đều định vị được nơi mình cần.
Hải Ninh, Hồng Quảng và ngày lập tỉnh năm 1963
Tỉnh Quảng Ninh ra đời ngày 30/10/1963, khi Quốc hội quyết định hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng. Hải Ninh là tỉnh biên giới ở phía đông, tỉnh lỵ ở Móng Cái, gồm các vùng Tiên Yên, Bình Liêu, Đầm Hà, Hà Cối và dải đảo ven bờ. Khu Hồng Quảng thì gồm vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả cùng đất Quảng Yên, Uông Bí, Hoành Bồ ở phía tây.
Cái tên Quảng Ninh vì vậy được ghép từ chữ Quảng của Hồng Quảng và chữ Ninh của Hải Ninh. Xa hơn nữa, thời Pháp thuộc đã có tỉnh Quảng Yên với tỉnh lỵ ở thị trấn Quảng Yên bên sông Bạch Đằng. Những tên ấy vẫn còn trên giấy tờ, gia phả của nhiều gia đình.
Đông Triều có lịch sử riêng. Vùng này từng thuộc xứ Hải Dương, gắn với quê gốc của nhà Trần, sau mới chuyển về Quảng Ninh. Vì thế người lớn tuổi ở Đông Triều, Mạo Khê đôi khi vẫn nhắc tỉnh Hải Hưng hay Hải Dương khi kể chuyện cũ; giấy tờ của ông bà có thể ghi tên tỉnh khác hẳn hiện nay.
Tỉnh lỵ của Quảng Ninh đặt ở Hòn Gai, nơi lúc đầu là thị xã gắn với mỏ than và cảng. Năm 1993, thị xã Hòn Gai được nâng lên thành phố Hạ Long, lấy theo tên vịnh. Từ đó đến nay, Hạ Long là trung tâm hành chính của tỉnh, kể cả sau đợt sắp xếp năm 2025.
Mười ba đơn vị cấp huyện của Quảng Ninh trước 1/7/2025
Danh sách dưới đây ghi đúng tên ngay trước ngày bỏ cấp huyện, kèm vùng và vài nét nhận diện. Tất cả vẫn thuộc tỉnh Quảng Ninh; tên xã, phường mới của từng nơi nên tra theo nghị quyết sắp xếp hoặc trên ứng dụng định danh.
| Đơn vị cũ | Vùng | Điểm nhận diện |
|---|---|---|
| Thành phố Cẩm Phả | Ven vịnh Bái Tử Long | Mỏ than lộ thiên, đền Cửa Ông, khoáng nóng Quang Hanh |
| Thành phố Đông Triều | Cực tây tỉnh | Quê gốc nhà Trần, Ngọa Vân, gốm, mỏ Mạo Khê |
| Thành phố Hạ Long | Trung tâm | Tỉnh lỵ, vịnh Hạ Long; từ 2020 gồm cả huyện Hoành Bồ cũ |
| Thành phố Móng Cái | Cực đông, giáp Trung Quốc | Cửa khẩu Bắc Luân, bãi Trà Cổ, mũi Sa Vĩ |
| Thành phố Uông Bí | Phía tây | Núi Yên Tử, mỏ Vàng Danh, nhiệt điện |
| Thị xã Quảng Yên | Cửa sông Bạch Đằng | Trước là huyện Yên Hưng; bãi cọc Bạch Đằng, đảo Hà Nam |
| Huyện Ba Chẽ | Núi giữa tỉnh | Rừng quế, ba kích, trà hoa vàng |
| Huyện Bình Liêu | Biên giới phía bắc | Cửa khẩu Hoành Mô, hoa sở, miến dong |
| Huyện Cô Tô | Đảo ngoài khơi | Bãi Hồng Vàn, hải đăng; nay là đặc khu |
| Huyện Đầm Hà | Ven biển phía đông | Tách từ Quảng Hà năm 2001 |
| Huyện Hải Hà | Ven biển phía đông | Tách từ Quảng Hà năm 2001; chè Đường Hoa, đảo Cái Chiên |
| Huyện Tiên Yên | Ngã ba đông bắc | Phố chợ cổ, gà Tiên Yên, rừng ngập mặn Đồng Rui |
| Huyện Vân Đồn | Quần đảo Bái Tử Long | Thương cảng thời Lý Trần, Quan Lạn; nay là đặc khu |
Người địa phương hay chia tỉnh thành ba miền. Miền tây gồm Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, gần Hải Phòng và đồng bằng. Miền trung là Hạ Long, Cẩm Phả, Ba Chẽ, Vân Đồn quanh vùng mỏ và vịnh. Miền đông gồm Tiên Yên, Bình Liêu, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái và Cô Tô, nơi có đường biên và nhiều đồng bào dân tộc thiểu số.
Ba mươi năm đổi tên, lên cấp trước đợt 2025
Nếu so một tờ bản đồ năm 1995 với bản đồ đầu năm 2025, người đọc sẽ thấy gần như cả tỉnh đã đổi cấp. Năm 1994, huyện đảo trước mang tên Cẩm Phả được đổi tên thành Vân Đồn, đồng thời lập huyện đảo Cô Tô. Cuối thập niên 1990, huyện Hải Ninh trở lại tên Móng Cái với tư cách thị xã; năm 2008 Móng Cái lên thành phố.
Năm 2001, huyện Quảng Hà được chia thành hai huyện Đầm Hà và Hải Hà, cũng là trở lại hai tên vùng đã quen từ trước. Năm 2011, Uông Bí lên thành phố và huyện Yên Hưng thành thị xã Quảng Yên. Năm 2012, Cẩm Phả lên thành phố. Năm 2015, huyện Đông Triều thành thị xã, rồi những năm sau tiếp tục được nâng lên thành phố.
Thay đổi lớn nhất với người dân là từ đầu năm 2020: toàn bộ huyện Hoành Bồ nhập vào thành phố Hạ Long. Thị trấn Trới và các xã vùng núi phía bắc vịnh trở thành phường, xã của Hạ Long. Nhiều giấy tờ cấp trước năm 2020 vẫn ghi huyện Hoành Bồ, người đi làm thủ tục nên mang theo để đối chiếu.
Những lần đổi này nối nhau khá sát, nên một người có thể có giấy khai sinh ghi huyện Yên Hưng, bằng tốt nghiệp ghi thị xã Quảng Yên, còn căn cước mới ghi phường của tỉnh Quảng Ninh. Không giấy nào sai cả, mỗi tờ ghi đúng tên ở thời điểm cấp.
Than, vịnh và cửa khẩu: ba trụ của kinh tế Quảng Ninh
Than là thứ làm nên Quảng Ninh hiện đại. Bể than chạy dài từ Đông Triều, Uông Bí qua Hạ Long tới Cẩm Phả, có cả mỏ lộ thiên lẫn mỏ hầm lò. Nghề mỏ có từ thời Pháp thuộc, kéo theo đường sắt, cảng, nhà máy điện và cả một tầng lớp thợ mỏ với văn hoá riêng, từ tiếng lóng nghề đến những ngày lễ của ngành.
Trụ thứ hai là biển và đảo. Vịnh Hạ Long được UNESCO ghi danh di sản thiên nhiên thế giới năm 1994 về cảnh quan và năm 2000 về địa chất, địa mạo; năm 2023 di sản được mở rộng thành vịnh Hạ Long – quần đảo Cát Bà, gồm cả phần của Hải Phòng. Bái Tử Long, Vân Đồn, Cô Tô, Trà Cổ đều là những tên mà khách du lịch trong nước quen thuộc.
Trụ thứ ba là biên giới. Quảng Ninh có các cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh với Quảng Tây của Trung Quốc. Buôn bán qua biên đã làm Móng Cái thành một đô thị đông vui, có chợ, có kho hàng và những dãy phố bán hàng qua lại hai bên.
Những năm gần đây, các tuyến cao tốc nối Hạ Long với Hải Phòng, với Vân Đồn rồi kéo dài tới Móng Cái, cùng sân bay Vân Đồn, làm thời gian đi lại trong tỉnh rút ngắn rất nhiều. Vùng phía đông trước kia cách tỉnh lỵ cả ngày đường nay đi về trong ngày dễ dàng.
Người Quảng Ninh: thợ mỏ, dân chài và đồng bào vùng cao
Dân cư Quảng Ninh rất đa dạng về gốc gác. Ở vùng mỏ, nhiều gia đình có ông bà từ Thái Bình, Nam Định, Hải Dương ra làm than từ thời trước, sống thành khu tập thể gần mỏ. Ở ven biển là các làng chài, có làng còn giữ tục thờ cúng và lễ hội riêng. Ở miền đông và vùng núi là người Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, cùng người Hoa sống từ lâu ở vùng biên.
Mỗi nhóm để lại dấu riêng trên đời sống. Người Dao Thanh Y ở Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu giữ lễ cấp sắc, nghề thêu và cây thuốc. Người Sán Chỉ ở Bình Liêu có lối hát soóng cọ. Làng biển Trà Cổ, Quan Lạn có đình làng lớn và lễ hội gắn với nghề biển.
Với người làm mỏ, nhịp sống chia theo ca, theo lò; với dân chài, theo con nước và mùa gió. Vì vậy người Quảng Ninh nói chung quen làm việc vất vả, ăn nói thẳng, chuộng sự đúng hẹn. Câu cửa miệng "kỷ luật và đồng tâm" của ngành than cũng được người ngoài nhắc khi nói về tính cách vùng này.
Ẩm thực của tỉnh mang dấu cả biển lẫn núi: chả mực Hạ Long, sá sùng Quan Lạn, ngán, sam, gà Tiên Yên, miến dong Bình Liêu, chè Đường Hoa ở Hải Hà. Khi mua làm quà, nên hỏi rõ nơi làm và cách bảo quản, nhất là với hải sản khô và đồ chế biến sẵn.
Từ 1/7/2025: giữ tên tỉnh, bỏ huyện, lập hai đặc khu
Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 sắp xếp 63 tỉnh, thành phố thành 34 đơn vị cấp tỉnh. Quảng Ninh nằm trong nhóm ít tỉnh giữ nguyên, không hợp với tỉnh nào. Tỉnh lỵ vẫn ở Hạ Long, ranh giới với Lạng Sơn, Hải Phòng và phần Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh mới, vẫn như cũ.
Thay đổi nằm ở bên trong. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện, chính quyền địa phương còn hai cấp: tỉnh và xã, phường, đặc khu. Các xã, phường, thị trấn cũ được gộp lại thành ít đơn vị hơn. Hai huyện đảo Vân Đồn và Cô Tô không chia nhỏ mà chuyển thành hai đặc khu mang đúng tên cũ.
Ở các thành phố cũ, phần lớn đơn vị mới là phường; ở các huyện miền núi và ven biển, phần lớn là xã. Nhiều đơn vị mới lấy lại tên quen thuộc của địa phương, nhưng một xã hay phường mang tên huyện cũ thường chỉ là một phần của huyện ấy, không phải toàn bộ.
Người dân ở đâu vẫn ở đó, chỉ tên hành chính đổi. Việc hằng ngày như chứng thực, hộ tịch, đất đai cơ bản được làm ở cấp xã, phường hoặc trên cổng dịch vụ công. Việc cần sở, ngành vẫn về Hạ Long như trước, nên với người Quảng Ninh, đợt sắp xếp này ít xáo trộn hơn so với những tỉnh phải nhập.
Đọc một địa chỉ Quảng Ninh cũ cho đúng
Địa chỉ trước 7/2025 có bốn tầng: thôn hoặc khu, xã hoặc phường hoặc thị trấn, huyện hoặc thị xã hoặc thành phố, tỉnh Quảng Ninh. Địa chỉ mới bỏ tầng huyện, còn ba tầng. Tên tỉnh không đổi nên nhiều người chỉ xoá chữ huyện là xong, nhưng tên xã, phường mới mới là chỗ dễ nhầm.
Cách ghi đỡ rắc rối là tên mới trước, tên cũ trong ngoặc. Ví dụ: "thôn X, đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh (trước là xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn)". Với các thành phố cũ, nên ghi rõ phường cũ, vì một phường mới có thể gồm ba bốn phường trước đây.
Người tìm lại quê ông bà cần thêm một lớp nữa: trước năm 1963 tỉnh là Hải Ninh hay khu Hồng Quảng, trước nữa là tỉnh Quảng Yên. Riêng Đông Triều có thể ghi thuộc Hải Dương. Một ghi chép nhỏ cho từng mốc năm sẽ giúp đọc gia phả, giấy tờ đất cũ không bị lạc.
Căn cước, sổ đỏ, bằng cấp, giấy phép kinh doanh cấp theo địa chỉ cũ vẫn còn hiệu lực, không phải đổi chỉ vì bỏ cấp huyện. Khi đặt biển hiệu, in hoá đơn hay đăng ký giao hàng, nên kiểm lại tên đơn vị mới trên ứng dụng định danh điện tử hoặc hỏi bộ phận một cửa của xã, phường.
Câu hỏi thường gặp
Tỉnh Quảng Ninh có bị sáp nhập năm 2025 không?
Không. Theo Nghị quyết 202/2025/QH15, Quảng Ninh là một trong số ít tỉnh giữ nguyên, không hợp với tỉnh nào. Tỉnh lỵ vẫn ở Hạ Long. Thay đổi chính là bỏ cấp huyện từ 1/7/2025 và lập hai đặc khu Vân Đồn, Cô Tô.
Trước 7/2025 Quảng Ninh có những huyện nào?
Có mười ba đơn vị cấp huyện: các thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Đông Triều, thị xã Quảng Yên và các huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Cô Tô, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Vân Đồn.
Huyện Hoành Bồ nay ở đâu?
Huyện Hoành Bồ đã nhập vào thành phố Hạ Long từ đầu năm 2020, trước đợt sắp xếp 2025 khá lâu. Sau 1/7/2025, địa bàn Hoành Bồ cũ thuộc một số phường, xã của tỉnh Quảng Ninh ở phía bắc vịnh Hạ Long.
Tên Quảng Ninh có từ khi nào?
Tên Quảng Ninh có từ năm 1963, khi tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng hợp nhất. Tên tỉnh ghép chữ Quảng của Hồng Quảng với chữ Ninh của Hải Ninh. Trước đó, thời Pháp thuộc có tỉnh Quảng Yên ở vùng phía tây.
Đặc khu Vân Đồn và Cô Tô khác xã thế nào?
Đặc khu là đơn vị hành chính cấp xã đặt ở vùng hải đảo, ngang cấp với xã, phường nhưng mang tên riêng. Từ 1/7/2025, hai huyện đảo Vân Đồn và Cô Tô chuyển thành hai đặc khu cùng tên, trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Giấy tờ ghi huyện cũ ở Quảng Ninh có phải làm lại không?
Không bắt buộc. Giấy tờ cấp hợp lệ theo địa chỉ cũ vẫn dùng được. Khi làm thủ tục mới hoặc cấp đổi theo nhu cầu, cơ quan sẽ ghi theo đơn vị hành chính hiện hành; nên giữ bản ghi tên cũ để đối chiếu.