Ngay trước ngày 1/7/2025, tỉnh Hải Dương có 12 đơn vị cấp huyện: thành phố Hải Dương, thành phố Chí Linh, thị xã Kinh Môn và chín huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Hà, Thanh Miện, Tứ Kỳ. Theo Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội, toàn tỉnh nhập vào thành phố Hải Phòng; cùng lúc cấp huyện bị bỏ trên cả nước, nên địa chỉ nay đi thẳng từ xã, phường lên thành phố.
Nói cách khác, không còn đơn vị hành chính nào mang tên tỉnh Hải Dương, nhưng mảnh đất xứ Đông vẫn nguyên đó, với vải Thanh Hà, bánh gai Ninh Giang, gốm Chu Đậu, đền Kiếp Bạc. Bài này đi qua lịch sử tên gọi, các lần nhập tách huyện, bảng tra mười hai đơn vị cũ và vài lưu ý khi ghi quê quán, để người quê ở đây hay người đang làm giấy tờ đọc là dùng được.
Xứ Đông: cái tên có từ thế kỷ 15
Tên Hải Dương xuất hiện rõ trong sử từ thời vua Lê Thánh Tông, khi cả nước được chia thành các thừa tuyên vào năm 1469 và vùng phía đông kinh thành Thăng Long được gọi là thừa tuyên Hải Dương. Người xưa còn gọi vùng này là trấn Hải Dương hay xứ Đông, một trong bốn trấn bao quanh kinh đô cùng xứ Đoài, xứ Nam và xứ Bắc. Câu "xứ Đông" đến nay vẫn quen miệng người già khi nói về quê mình.
Phạm vi trấn Hải Dương xưa rộng hơn tỉnh Hải Dương sau này rất nhiều: có lúc gồm cả phần lớn đất Hải Phòng hiện nay, một phần Hưng Yên và Quảng Ninh. Năm 1831, khi vua Minh Mạng đặt lại hệ thống tỉnh, tỉnh Hải Dương ra đời. Cuối thế kỷ 19, người Pháp tách vùng ven biển quanh cửa sông Cấm để lập Hải Phòng, từ đó hai đơn vị đi hai con đường riêng, cho đến năm 2025 lại về chung một nhà.
Trấn lỵ Hải Dương từng đặt ở vùng Mao Điền, nay thuộc Cẩm Giàng cũ, trước khi dời về bên bờ sông Thái Bình đầu thế kỷ 19, nơi thành Hải Dương được xây và trở thành hạt nhân của thành phố Hải Dương. Vì thế người địa phương còn gọi thành phố là thành Đông. Văn miếu Mao Điền đến nay vẫn là dấu vết rõ của thời trấn lỵ cũ.
Hải Hưng 1968–1996 và những lần nhập tách huyện
Giấy tờ của người sinh trong nửa thế kỷ qua có thể ghi những tên tỉnh, tên huyện khác nhau. Các mốc dưới đây giải thích vì sao:
- Năm 1968: tỉnh Hải Dương hợp với tỉnh Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng, tỉnh lỵ đặt ở thị xã Hải Dương. Người sinh giai đoạn này thường có giấy khai sinh ghi "Hải Hưng".
- Năm 1979: nhiều cặp huyện được gộp lại để thành những huyện lớn: Kinh Môn với Kim Thành thành huyện Kim Môn, Cẩm Giàng với Bình Giang thành Cẩm Bình, Nam Sách với Thanh Hà thành Nam Thanh, Gia Lộc với Tứ Kỳ thành Tứ Lộc, Ninh Giang với Thanh Miện thành Ninh Thanh.
- Năm 1996–1997: tỉnh Hải Hưng tách lại thành Hải Dương và Hưng Yên, có hiệu lực từ đầu năm 1997. Cùng đợt, các huyện gộp năm 1979 dần được chia lại theo tên cũ. Thị xã Hải Dương lên thành phố năm 1997.
- Năm 2010 và 2019: Chí Linh từ huyện lên thị xã năm 2010, rồi lên thành phố năm 2019. Thành phố Hải Dương mở rộng, nhận thêm một số xã của các huyện xung quanh.
- Năm 2020: huyện Kinh Môn lên thị xã Kinh Môn, các thị trấn trong huyện trở thành phường.
- Ngày 1/7/2025: Hải Dương nhập vào thành phố Hải Phòng, bỏ cấp huyện, xã phường được sắp xếp lại.
Như vậy cùng một người sinh năm 1985 ở Thanh Miện có thể thấy trên giấy tờ ba cách ghi: huyện Ninh Thanh tỉnh Hải Hưng, huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, và nay là một xã thuộc thành phố Hải Phòng. Cả ba đều đúng ở thời điểm ghi.
Bảng tra 12 đơn vị cấp huyện của Hải Dương cũ
Bảng xếp theo vùng: đô thị và vùng đồi núi phía bắc, rồi các huyện đồng bằng. Cột cuối là đơn vị cấp tỉnh hiện nay; tên xã, phường mới tra theo bảng sắp xếp chính thức:
| Đơn vị cũ | Loại | Nhận diện nhanh | Nay thuộc |
|---|---|---|---|
| Hải Dương | thành phố | tỉnh lỵ cũ, thành Đông bên sông Thái Bình | TP Hải Phòng |
| Chí Linh | thành phố (từ 2019) | Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phả Lại, vùng đồi | TP Hải Phòng |
| Kinh Môn | thị xã (từ 2020) | núi đá vôi, xi măng, đền An Phụ | TP Hải Phòng |
| Bình Giang | huyện | Kẻ Sặt, làng tiến sĩ Mộ Trạch, thợ bạc Châu Khê | TP Hải Phòng |
| Cẩm Giàng | huyện | Văn miếu Mao Điền, đền Bia, khu công nghiệp ven quốc lộ 5 | TP Hải Phòng |
| Gia Lộc | huyện | đồng rau vụ đông sát thành phố, quê Yết Kiêu | TP Hải Phòng |
| Kim Thành | huyện | cửa ngõ sang Hải Phòng cũ trên quốc lộ 5 | TP Hải Phòng |
| Nam Sách | huyện | gốm Chu Đậu, phía bắc thành phố | TP Hải Phòng |
| Ninh Giang | huyện | bánh gai, đền Tranh, sông Luộc | TP Hải Phòng |
| Thanh Hà | huyện | vải thiều, vùng sông nước | TP Hải Phòng |
| Thanh Miện | huyện | đồng chiêm giáp Hưng Yên | TP Hải Phòng |
| Tứ Kỳ | huyện | rươi, dưa chuột Kỳ Sơn, ven sông Thái Bình | TP Hải Phòng |
Cả mười hai đơn vị đều về một đơn vị cấp tỉnh. Điểm khác chỉ nằm ở tầng xã, phường: nơi đô thị như thành phố Hải Dương, Chí Linh, Kinh Môn chủ yếu thành phường, các huyện đồng bằng chủ yếu thành xã.
Hải Phòng mới: Hải Dương cũ là nửa phía tây
Nghị quyết 202/2025/QH15 gom 63 tỉnh, thành thành 34 đơn vị cấp tỉnh. Thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương hợp lại, lấy tên Hải Phòng, vẫn là thành phố trực thuộc trung ương, trung tâm hành chính đặt ở phía Hải Phòng cũ. Theo số liệu công bố khi sắp xếp, thành phố mới có 114 đơn vị cấp xã gồm phường, xã và hai đặc khu đảo.
Nếu nhìn trên thực địa, Hải Dương cũ chiếm nửa phía tây của thành phố mới, trải từ vùng đồi Chí Linh giáp Bắc Ninh và Quảng Ninh xuống tới bờ sông Luộc giáp Thái Bình cũ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên mới. Quốc lộ 5 và đường sắt Hà Nội – Hải Phòng cắt ngang vùng này theo hướng tây – đông, nối thành phố Hải Dương cũ với nội thành Hải Phòng chỉ hơn một giờ xe.
Một chi tiết người quê Hải Dương hay hỏi: tên Hải Dương có còn không? Tên tỉnh thì không, nhưng tên vẫn sống trong cách người ta gọi quê, trong tên trường học, tên món ăn, và trong tên một phường mới ở trung tâm thành phố Hải Dương cũ. Khi ai đó nói "về Hải Dương", ai cũng hiểu là về vùng đất phía tây Hải Phòng bây giờ.
Ghi quê quán, địa chỉ sau khi Hải Dương nhập Hải Phòng
Giấy tờ cũ vẫn dùng được. Căn cước, sổ đỏ, bằng cấp ghi "tỉnh Hải Dương" hay "tỉnh Hải Hưng" không tự hết giá trị vì đổi địa giới. Khi làm thủ tục mới, cơ quan thường tự đối chiếu sang tên mới; bạn chỉ cần mang đúng giấy đang có.
Địa chỉ mới bỏ tầng huyện. Một địa chỉ đầy đủ nay chỉ gồm số nhà hoặc thôn, xã hoặc phường mới, thành phố Hải Phòng. Ghi thêm tên huyện cũ trong ngoặc khi gửi hàng hay điền mẫu không bắt buộc, nhưng giúp người giao hàng dễ tìm trong giai đoạn chuyển tiếp.
Tra đúng tên xã mới. Mỗi xã mới thường gộp từ vài xã cũ, có khi lấy tên một xã cũ, có khi đặt tên mới. Cách chắc nhất là tra bảng sắp xếp do thành phố công bố hoặc hỏi thẳng ủy ban xã, phường nơi mình cư trú.
Quê quán khai theo thời điểm. Với hồ sơ hỏi "quê quán", nhiều nơi chấp nhận ghi theo tên đang dùng hiện nay; nếu hồ sơ yêu cầu khớp với giấy khai sinh cũ thì ghi đúng như giấy cũ. Khi phân vân, hỏi cán bộ tiếp nhận trước khi điền.
Đất, sông và nghề của xứ Đông
Hải Dương cũ có hai mảng địa hình rõ rệt. Phía bắc là vùng đồi núi thấp của Chí Linh và núi đá vôi Kinh Môn, nơi có rừng thông Côn Sơn, mỏ đá và các nhà máy xi măng lớn. Phía nam là đồng bằng phù sa do sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Rạng bồi đắp, đất thấp dần về phía đông nam, nhiều ô trũng cấy lúa chiêm.
Đời sống nông nghiệp ở đây nổi tiếng với vải thiều Thanh Hà, cà rốt Cẩm Giàng, hành tỏi Kinh Môn, dưa chuột vùng Tứ Kỳ, cùng cánh đồng vụ đông trồng rau màu sau mùa gặt. Nghề thủ công thì có gốm Chu Đậu ở Nam Sách, gốm Cậy và nghề kim hoàn Châu Khê ở Bình Giang, chạm gỗ Đông Giao ở Cẩm Giàng. Bánh đậu xanh và bánh gai là hai thứ quà mà người qua quốc lộ 5 hay mua về.
Từ đầu những năm 2000, dải đất dọc quốc lộ 5 và quốc lộ 18 công nghiệp hoá rất nhanh, với các khu công nghiệp ở Cẩm Giàng, Kim Thành, thành phố Hải Dương, Chí Linh. Nhiều gia đình ở các huyện thuần nông phía nam có con em đi làm công nhân, sáng đi chiều về bằng xe máy. Sau khi nhập Hải Phòng, vùng này được kỳ vọng nối liền chuỗi công nghiệp với cảng biển, nhưng nếp làng đồng bằng vẫn còn rất rõ.
Danh nhân và di tích tiêu biểu của Hải Dương cũ
Hải Dương được gọi là đất học, với nhiều làng khoa bảng như Mộ Trạch ở Bình Giang. Các tên tuổi gắn với vùng này mà người địa phương hay nhắc gồm Trần Hưng Đạo với Vạn Kiếp, Nguyễn Trãi với Côn Sơn, Chu Văn An với núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, danh y Tuệ Tĩnh ở Cẩm Giàng, Yết Kiêu ở Gia Lộc, và họ Khúc với làng Cúc Bồ ở Ninh Giang.
Cụm di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc ở Chí Linh là di tích quốc gia đặc biệt, và tháng 7/2025 được UNESCO ghi danh di sản thế giới trong quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc, cùng các điểm ở Quảng Ninh và Bắc Giang cũ. Ở Kinh Môn có đền Cao An Phụ trên núi và động Kính Chủ với các bia khắc vào vách đá. Đồng bằng phía nam thì dày đặc đình làng, chùa làng, mỗi nơi một lệ hội riêng vào mùa xuân.
Người đi thăm nên nhớ đây là di tích sống: nhiều nơi vẫn là chỗ dân làng tụ họp ngày lễ. Đi vào mùa hội thì đông, nên đi sớm, ăn mặc kín đáo khi vào đền chùa, và giữ yên lặng ở khu thờ. Mỗi huyện cũ có bài riêng trên trang này, viết kỹ hơn về vị trí, lịch sử và đời sống từng nơi.
Câu hỏi thường gặp
Tỉnh Hải Dương sáp nhập vào đâu?
Từ 1/7/2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15, toàn bộ tỉnh Hải Dương nhập vào thành phố Hải Phòng. Đơn vị mới giữ tên Hải Phòng, là thành phố trực thuộc trung ương. Mọi huyện, thị xã, thành phố cũ của Hải Dương đều nằm trong Hải Phòng mới.
Trước sáp nhập, Hải Dương có bao nhiêu huyện?
Ngay trước 1/7/2025, Hải Dương có 12 đơn vị cấp huyện: thành phố Hải Dương, thành phố Chí Linh, thị xã Kinh Môn và chín huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Hà, Thanh Miện, Tứ Kỳ.
Tỉnh Hải Hưng là gì?
Hải Hưng là tỉnh hình thành năm 1968 khi hợp Hải Dương với Hưng Yên, tỉnh lỵ ở thị xã Hải Dương. Từ đầu năm 1997 Hải Hưng tách lại thành hai tỉnh. Giấy tờ của người sinh trong khoảng 1968–1996 thường ghi tỉnh Hải Hưng.
Huyện Kim Môn, Nam Thanh, Tứ Lộc nay là đâu?
Đó là các huyện gộp từ năm 1979: Kim Môn gồm Kinh Môn và Kim Thành, Nam Thanh gồm Nam Sách và Thanh Hà, Tứ Lộc gồm Tứ Kỳ và Gia Lộc. Khoảng năm 1996–1997 các huyện này được chia lại theo tên cũ, nay tất cả đều thuộc thành phố Hải Phòng.
Giấy tờ ghi tỉnh Hải Dương có phải đổi không?
Không bắt buộc đổi chỉ vì đổi địa giới. Căn cước, sổ đỏ, bằng cấp cũ vẫn dùng được; khi làm thủ tục mới, cơ quan sẽ đối chiếu sang tên xã, phường mới. Nếu cần cập nhật, hỏi ủy ban xã, phường nơi cư trú.
Người Hải Dương bây giờ ghi quê là gì?
Hồ sơ mới thường ghi theo tên đơn vị đang dùng, tức xã hoặc phường mới thuộc thành phố Hải Phòng. Nếu hồ sơ cần khớp với giấy khai sinh cũ thì ghi đúng như giấy cũ. Trong đời thường, người ta vẫn nói quê Hải Dương như trước.