Quận Cẩm Lệ là quận trẻ nhất của Đà Nẵng cũ, thành lập năm 2005 từ bốn xã Hòa Thọ, Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân của huyện Hòa Vang và phường Khuê Trung của quận Hải Châu. Từ 1/7/2025, cấp quận bị bỏ, địa bàn Cẩm Lệ cũ nay thuộc các phường của thành phố Đà Nẵng mới (hợp nhất Đà Nẵng và Quảng Nam).
Với nhiều gia đình ở đây, Cẩm Lệ chưa bao giờ là “phố”: ông bà sinh ra ở xã thuộc Hòa Vang, cha mẹ có sổ hộ khẩu ghi quận Cẩm Lệ, con cháu nay ghi phường mới. Ba thế hệ, ba cách ghi địa chỉ cho cùng một mảnh vườn ven sông.
Vị trí: cửa ngõ tây nam, nơi phố gặp đồng
Cẩm Lệ cũ nằm ở phía tây nam nội thành, giữa Hải Châu ở phía bắc và đông bắc, Hòa Vang ở phía tây và nam, Ngũ Hành Sơn ở phía đông. Sông Cẩm Lệ chảy qua địa bàn trước khi đổ vào sông Hàn, nên quận có nhiều bờ sông, bãi bồi, và những khu đất trũng hay ngập khi mưa lớn.
Các trục giao thông lớn từ phía nam vào trung tâm Đà Nẵng phần nhiều đi ngang Cẩm Lệ: quốc lộ 1 cũ, đường Cách Mạng Tháng Tám, các tuyến nối sang Hòa Vang và sang Điện Bàn của Quảng Nam cũ. Vì vậy Cẩm Lệ là nơi người từ phía nam lên thành phố gặp đầu tiên, và cũng là nơi giá đất, nhà trọ, xưởng nhỏ phát triển rất nhanh trong hai mươi năm làm quận.
Một nét dễ nhận thấy là ranh giới giữa đô thị và nông thôn ở Cẩm Lệ không rõ như ở Hải Châu. Đi vài trăm mét từ một khu đô thị mới đã có thể gặp ruộng rau, mương nước, xóm cũ với cổng ngõ và nhà thờ họ. Đó là dấu vết của bốn xã nông nghiệp Hòa Vang trước năm 2005.
Khu Hòa Xuân phía đông nam là nơi biến đổi rõ nhất: từ vùng bãi ven sông thành những khu đô thị quy hoạch ô bàn cờ, với nhà phố liền kề và công viên ven sông. Người lớn tuổi vẫn gọi theo tên làng, xóm cũ; người mới đến thì gọi theo tên khu đô thị.
Cẩm Lệ được ghép từ đâu
Văn bản thành lập quận năm 2005 lấy nguyên các đơn vị dưới đây làm nền. Các xã sau đó được chuyển thành phường, có lần chia tách thêm, nên tên phường cuối cùng trước tháng 7/2025 có thể khác tên xã ban đầu:
| Đơn vị gốc năm 2005 | Trước đó thuộc | Ghi chú khi đọc giấy tờ |
|---|---|---|
| Xã Hòa Thọ | Huyện Hòa Vang | Sau thành phường, chia đôi thành Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây |
| Xã Hòa Phát | Huyện Hòa Vang | Sau thành phường Hòa Phát |
| Xã Hòa An | Huyện Hòa Vang | Sau thành phường Hòa An |
| Xã Hòa Xuân | Huyện Hòa Vang | Sau thành phường Hòa Xuân, vùng đô thị mới ven sông |
| Phường Khuê Trung | Quận Hải Châu | Giữ tên phường, chuyển sang quận mới |
Đọc bảng này giúp giải những trường hợp hay gặp: giấy tờ trước 2005 ghi “xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang” và giấy tờ sau đó ghi “phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ” có thể cùng chỉ một ngôi nhà. Không có gì sai, chỉ là địa giới đổi theo thời gian. Muốn biết ngôi nhà đó nay thuộc phường mới nào, tra theo tên phường cuối cùng trước 7/2025.
Bảng không ghi số dân, diện tích từng đơn vị vì các con số này thay đổi theo từng lần thống kê; nếu cần, nên lấy từ niên giám thống kê của thành phố cho đúng năm.
Làng Phong Lệ và những dòng họ khoa bảng
Trong số làng cũ của Cẩm Lệ, Phong Lệ là cái tên hay được nhắc nhất. Đây là làng cổ ven sông, có đình làng và nhiều nhà thờ tộc, gắn với dòng họ Ông Ích, trong đó Ông Ích Khiêm là võ quan triều Nguyễn được người Đà Nẵng biết đến qua tên đường lớn ở trung tâm. Thế hệ sau trong dòng họ này có Ông Ích Đường, người tham gia phong trào kháng Pháp đầu thế kỷ XX.
Làng Phong Lệ còn được biết đến qua những phát hiện khảo cổ liên quan tới văn hoá Chăm trên đất này. Không cần đi xa: chỉ riêng việc ven sông Cẩm Lệ từng có dấu tích Chăm đủ cho thấy vùng đất này có người ở và canh tác từ rất lâu trước khi có thành phố.
Các làng khác như Hòa Thọ, Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân đều mang tiền tố “Hòa” — đó là cách đặt tên xã thống nhất của huyện Hòa Vang sau năm 1975, chứ không phải tên làng xưa. Tên làng thật thì nằm trong cổng làng, trong gia phả và trong cách người già gọi xóm mình. Khi tìm gốc gác gia đình ở Cẩm Lệ, nên hỏi tên làng trước rồi mới đối chiếu sang tên xã, tên phường.
Đình làng ở Cẩm Lệ phần lớn có quy mô nhỏ, mái ngói, sân rộng, nhiều nơi đã được trùng tu bằng đóng góp của con cháu đi xa. Lễ tế đình mùa xuân, mùa thu vẫn được giữ ở một số làng, là dịp bà con các họ gặp lại nhau.
Thuốc lá, ruộng rau và nghề của đất ven sông
Người Quảng lớn tuổi còn nhớ tiếng thơm của thuốc lá Cẩm Lệ — loại thuốc lá trồng trên đất bãi ven sông, phơi, xắt sợi để hút. Thứ hàng này từng nổi đến mức tên Cẩm Lệ đi vào lời ăn tiếng nói của người miền Trung như một sản vật. Ngày nay diện tích trồng thuốc lá gần như không còn, nhưng câu chuyện vẫn là một phần ký ức của vùng.
Trước khi đô thị hoá, bốn xã gốc của Cẩm Lệ sống bằng lúa, rau màu, chăn nuôi và đánh bắt trên sông. Ruộng rau ở các vùng ven sông cung cấp cho chợ trong thành phố mỗi sáng; nhiều gia đình vừa làm ruộng vừa chở rau đi bán. Khi đất nông nghiệp thu hẹp, một phần chuyển sang làm thợ xây, mở tiệm sửa xe, cho thuê trọ cho công nhân và sinh viên.
Từ những năm 2000, Cẩm Lệ có thêm xưởng sản xuất, kho bãi, cơ sở chế biến nhỏ, cùng các khu dân cư mới mọc theo trục đường. Đời sống trở nên lẫn lộn: buổi sáng còn thấy người gánh rau ra chợ, buổi trưa đã là dòng xe tải chở vật liệu xây dựng.
Một địa điểm nhiều người Đà Nẵng biết là khu vực tổ chức hội chợ, triển lãm lớn của thành phố trên đường Cách Mạng Tháng Tám, gần phường Khuê Trung — nơi những đợt hội chợ Tết, hội chợ hàng nông sản kéo người cả thành phố về.
Sông Cẩm Lệ: đoạn sông nối Hòa Vang với sông Hàn
Sông Cẩm Lệ là đoạn hạ lưu của hệ thống sông đổ từ phía tây Hòa Vang về, nhận nước từ các nhánh như sông Yên, sông Túy Loan rồi chảy vào sông Hàn trước khi ra vịnh. Vì nằm ở khúc nhận nước của cả vùng thượng nguồn, mực nước sông Cẩm Lệ phản ánh khá rõ tình hình mưa lũ của Hòa Vang và một phần đất Quảng Nam cũ.
Trước đây sông là đường đi lại và đường chở hàng: ghe chở rau, chở lúa, chở cát từ thượng nguồn về phố. Bến đò ở nhiều làng ven sông là nơi tụ họp, gắn với chợ nhỏ họp sớm. Khi cầu và đường bộ mở rộng, đò ngang thưa dần, nhưng tên các bến cũ vẫn còn trong cách gọi xóm, gọi đường.
Ven sông có những bãi bồi trồng rau, trồng màu, và chính phù sa của những bãi này từng nuôi cây thuốc lá nổi tiếng. Ngày nay nhiều đoạn bờ sông đã được kè, làm đường ven sông và công viên, nhất là phía Hòa Xuân. Buổi chiều, người dân ra bờ kè đi bộ, câu cá, thả diều — một khoảng thở hiếm có giữa vùng đô thị mới.
Người sống ven sông Cẩm Lệ có kinh nghiệm riêng với nước: nhìn màu nước, nghe tin xả lũ ở thượng nguồn, để ý mức nước ở chân cầu. Những kinh nghiệm này đáng nghe hơn mọi lời quảng cáo dự án khi bạn định mua đất, thuê nhà ở vùng này.
Từ 1/7/2025: Cẩm Lệ cũ nay thuộc đâu
Cùng với cả nước, từ ngày 1/7/2025 cấp quận ở Đà Nẵng bị bỏ. Đà Nẵng và Quảng Nam hợp nhất thành thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Các phường của quận Cẩm Lệ cũ được sắp xếp lại thành một số phường mới lớn hơn, trực thuộc thành phố.
Bài này không liệt kê tên phường mới cho từng phường cũ của Cẩm Lệ, vì việc ghép không trùng khớp hoàn toàn với ranh giới quận cũ: có chỗ phường mới gồm cả phần đất của quận lân cận. Cách chắc chắn nhất là lấy tên phường trên giấy tờ (Hòa An, Hòa Phát, Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây, Hòa Xuân, Khuê Trung) rồi tra bảng đối chiếu chính thức của thành phố.
Với người làm thủ tục, điều cần nhớ là “quận Cẩm Lệ” nay chỉ còn là địa danh lịch sử. Hồ sơ mới ghi tên phường mới và thành phố Đà Nẵng, không ghi quận. Giấy tờ cũ ghi quận Cẩm Lệ, hoặc xa hơn nữa ghi huyện Hòa Vang, vẫn đọc được bình thường khi biết lịch sử đã kể ở trên.
Người dân vẫn sẽ còn gọi “dưới Cẩm Lệ”, “qua Hòa Xuân” trong nhiều năm, giống như người Sài Gòn vẫn gọi tên quận cũ. Tên gọi dân gian không đổi theo nghị quyết, và đó là lý do cần những bài như thế này để nối hai cách gọi.
Đi Cẩm Lệ cũ: vài điều người địa phương hay dặn
Mùa mưa nhìn nước sông. Các khu thấp ven sông Cẩm Lệ và phía Hòa Xuân dễ ngập khi mưa lớn kéo dài kết hợp nước thượng nguồn đổ về, thường dồn vào các tháng cuối năm. Nếu thuê nhà, hỏi hàng xóm năm trước nước lên tới đâu.
Hỏi đường bằng tên làng hoặc tên chợ. Nhiều người lớn tuổi không quen tên khu đô thị mới. Nói tên làng, tên chợ, tên cầu thì dễ được chỉ đúng hơn là đọc tên đường mới mở.
Ăn sáng kiểu xứ Quảng. Mì Quảng, bánh canh, bún mắm nêm ở các quán nhỏ trong xóm là bữa sáng quen của người Cẩm Lệ; quán thường mở sớm và bán hết là nghỉ.
Tôn trọng không gian nhà thờ tộc. Nhà thờ họ trong xóm là nơi riêng của dòng họ, không phải điểm tham quan; muốn vào xem cần hỏi người trông coi.
Giấy tờ đất đai kiểm kỹ tên cũ. Đất ở Cẩm Lệ nhiều thửa có lịch sử từ thời còn là xã của Hòa Vang; khi mua bán, đối chiếu đủ ba mốc tên gọi để tránh nhầm thửa.
Câu hỏi thường gặp
Quận Cẩm Lệ trước đây thuộc huyện nào?
Phần lớn đất Cẩm Lệ trước năm 2005 thuộc huyện Hòa Vang, gồm bốn xã Hòa Thọ, Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân. Riêng phường Khuê Trung trước đó thuộc quận Hải Châu. Quận Cẩm Lệ ghép các đơn vị này lại từ năm 2005.
Cẩm Lệ nay thuộc tỉnh nào?
Cẩm Lệ cũ nay thuộc thành phố Đà Nẵng, là thành phố trực thuộc trung ương hình thành từ 1/7/2025 do hợp nhất Đà Nẵng và Quảng Nam. Cấp quận không còn, địa bàn được chia vào các phường mới của thành phố.
Trước 7/2025 quận Cẩm Lệ có những phường nào?
Quận Cẩm Lệ có các phường Hòa An, Hòa Phát, Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây, Hòa Xuân và Khuê Trung. Đây là các tên cần đọc trên giấy tờ để tra sang phường mới sau sắp xếp.
Làng Phong Lệ ở đâu?
Phong Lệ là làng cổ ven sông thuộc địa bàn Cẩm Lệ cũ, trước 2005 thuộc huyện Hòa Vang. Làng gắn với dòng họ Ông Ích, có đình làng và nhiều nhà thờ tộc, được người Đà Nẵng biết đến như một làng có truyền thống lâu đời.
Giấy tờ ghi xã Hòa Xuân, huyện Hòa Vang có còn dùng được không?
Giấy tờ đó được cấp đúng theo địa giới tại thời điểm cấp, nên vẫn đọc được bình thường. Xã Hòa Xuân sau năm 2005 thuộc quận Cẩm Lệ, rồi từ 7/2025 thuộc phường mới của thành phố Đà Nẵng. Khi làm thủ tục mới, ghi theo địa danh mới.
Thuốc lá Cẩm Lệ còn không?
Thuốc lá Cẩm Lệ là sản vật nổi tiếng một thời của vùng đất bãi ven sông. Ngày nay đô thị hoá làm diện tích trồng gần như không còn; cái tên chủ yếu sống trong ký ức và câu chuyện của người lớn tuổi xứ Quảng.