63VN.com63VN
Thái Bình

Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình cũ: đất khai hoang 1828, khí mỏ và biển Đồng Châu

Tiền Hải là huyện ven biển phía nam Thái Bình cũ do Nguyễn Công Trứ lập năm 1828; có mỏ khí, biển Đồng Châu, Cồn Vành; từ 1/7/2025 đất huyện cũ thuộc Hưng Yên.

Long row of casuarina trees along a sandy beach in northern Vietnam, a few people walking at the waterline in the soft morning haze, calm brown sea

Huyện Tiền Hải nằm ở góc đông nam tỉnh Thái Bình cũ, giữa sông Trà Lý, sông Hồng và biển, được doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập năm 1828 trên vùng bãi bồi khai hoang. Tiền Hải có mỏ khí thiên nhiên, khu công nghiệp vật liệu, biển Đồng Châu và Cồn Vành. Từ 1/7/2025, đất Tiền Hải cũ chia thành một số xã thuộc tỉnh Hưng Yên.

Không gộp với huyện nào năm 1969, Tiền Hải là huyện trẻ nhất về tuổi đất nhưng có câu chuyện lập huyện rõ ràng nhất Thái Bình. Bài dưới kể chuyện khai hoang, những ngọn nguồn của tên làng, nghề biển, công nghiệp khí và những điều cần biết khi đọc lại địa chỉ sau năm 2025.

Năm 1828 và cuộc khai hoang của Nguyễn Công Trứ

Trước thế kỷ XIX, vùng đất Tiền Hải là bãi bồi hoang ven biển phía đông Kiến Xương, cỏ lác, sú vẹt mọc dày, nước mặn ra vào theo con triều. Năm 1828, dưới triều Minh Mạng, Nguyễn Công Trứ nhận chức doanh điền sứ, chiêu mộ dân nghèo không ruộng ở các vùng lân cận đến khai khẩn.

Cách làm của ông được ghi lại khá rõ: chia đất cho từng nhóm dân, mỗi nhóm lập thành ấp, có đình, có chợ; đào kênh dẫn nước ngọt, đắp đê ngăn mặn; cấp trâu, nông cụ, thóc giống cho dân. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một huyện mới hình thành, đặt tên Tiền Hải, nghĩa là phía trước là biển.

Một năm sau, ông tiếp tục lập huyện Kim Sơn ở Ninh Bình theo cách tương tự. Người dân Tiền Hải đến nay vẫn lập đền thờ ông, coi ông là ông tổ mở đất; ngày giỗ ông là dịp người các làng trong huyện tụ về.

Làng xã mang dấu vết khai hoang

Vì được lập theo kế hoạch, làng xã Tiền Hải có cấu trúc khác với những làng cổ phía trong tỉnh. Đường làng thẳng, ruộng vuông, kênh mương chạy song song; nhiều tên xã, tên làng gợi nhớ phương hướng hay thứ tự khai hoang, như các tên có chữ Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người đến khai hoang đến từ nhiều nơi, mang theo phong tục và nếp sống khác nhau. Trên đất Tiền Hải vì vậy có đình làng, chùa, và nhiều nhà thờ họ đạo đứng gần nhau. Những công trình này phần nhiều có kiến trúc đẹp, tháp chuông cao trên cánh đồng phẳng, là cảnh quen thuộc khi đi dọc các trục đường.

Sau năm 1828, bãi bồi vẫn tiếp tục lấn ra, người dân tiếp tục quai đê lấn biển qua nhiều thế hệ. Mỗi lớp đê là một lớp ruộng mới, nên càng ra phía biển, ruộng càng trẻ, đất càng mặn hơn.

Nhiều làng Tiền Hải còn lưu giữ văn bản, bia đá, gia phả ghi lại những ngày đầu mở đất, tên người đứng đầu nhóm khai hoang, số đinh được chia ruộng. Những tư liệu ấy là nguồn quý cho ai muốn tìm hiểu cách người xưa tổ chức một cuộc khai hoang lớn.

Khí mỏ Tiền Hải và khu công nghiệp

Tiền Hải nổi tiếng trong ngành năng lượng vì có mỏ khí thiên nhiên được phát hiện từ giữa thập niên 1970, là mỏ khí được khai thác sớm ở miền Bắc. Khí từ mỏ được dẫn tới các nhà máy trong vùng, làm nhiên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng.

Nhờ nguồn khí này, khu công nghiệp Tiền Hải hình thành với các nhà máy gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính và vật liệu. Tên Tiền Hải vì thế quen thuộc với giới xây dựng không kém gì với người đi biển. Khu công nghiệp tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương.

Gần đây, khu kinh tế ven biển của Thái Bình được quy hoạch trên đất Tiền Hải và Thái Thụy, mở rộng thêm các khu công nghiệp, cảng, đô thị. Đời sống một số xã thay đổi nhanh, ruộng đầm chuyển sang mục đích khác, người dân chuyển nghề.

Ngày nay sản lượng khí của mỏ không còn như thời đầu, nhưng tên khí mỏ Tiền Hải vẫn gắn với lịch sử ngành dầu khí miền Bắc. Nhiều người lớn tuổi trong huyện còn nhớ những ngày đầu giàn khoan dựng lên giữa đồng.

Biển Đồng Châu, Cồn Vành và cửa Ba Lạt

Biển Đồng Châu. Bãi biển ở phía bắc bờ biển Tiền Hải, có rừng phi lao, bãi cát, các nhà nghỉ, hàng quán hải sản. Mùa hè là nơi người Thái Bình ra tắm biển nhiều nhất.

Cồn Vành. Dải cồn cát ở phía nam, gần cửa Ba Lạt, có rừng phi lao, bãi cát dài và còn khá hoang sơ. Ra Cồn Vành phải theo con nước, nên hỏi người địa phương trước.

Cửa Ba Lạt. Nơi sông Hồng đổ ra biển, ở rìa tây nam Tiền Hải, bên kia là Giao Thủy của Nam Định cũ. Vùng cửa sông có bãi bồi, rừng ngập mặn và chim nước.

Nước biển và an toàn. Biển Tiền Hải nước đục vì phù sa, bãi thoải, con nước lên xuống nhanh. Không tắm ở cửa sông, không ra xa khi nước lên, không đi bãi bùn một mình.

Rừng phi lao. Dải phi lao dọc bờ Tiền Hải được trồng để chắn gió, giữ cát. Mùa hè, bóng phi lao là chỗ nghỉ chân của khách tắm biển; mùa đông, rừng phi lao rì rào trong gió bấc.

Ngao, muối và nghề biển

Bãi triều Tiền Hải là vùng nuôi ngao lớn của Thái Bình. Ngao giống thả trên bãi, người nuôi canh bãi, thu hoạch theo con nước, bán đi các tỉnh và xuất khẩu. Nghề ngao mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ, nhưng cũng nhiều rủi ro khi gặp thời tiết xấu hay ngao chết hàng loạt.

Ngoài ngao, người Tiền Hải đánh bắt gần bờ, nuôi tôm, cua trong đầm, làm muối ở một số xã ven biển. Mắm, cá khô, rau câu là những sản vật quen thuộc của vùng. Đi chợ ven biển buổi sáng có thể thấy đủ các loại hải sản tươi do chính người địa phương mang ra bán.

Ở phía trong đê, Tiền Hải vẫn là huyện lúa, trồng thêm rau màu, cây vụ đông. Nhiều nhà kết hợp ruộng lúa, ao cá, chăn nuôi, và có người đi làm xa gửi tiền về.

Người nuôi ngao thường dựng chòi canh trên bãi, thay nhau trông coi ngày đêm. Mùa thu hoạch, cả nhà ra bãi cào ngao, rửa, phân loại rồi chở về điểm thu mua. Đây là cảnh lao động đặc trưng của bãi triều Tiền Hải.

Đi lại và lưu ý khi đến

Từ thành phố Thái Bình, đường ra Tiền Hải đi qua Kiến Xương, quãng đường không dài, xe máy hay xe khách đều thuận. Trung tâm huyện là thị trấn Tiền Hải, có chợ, bến xe, các cơ sở dịch vụ. Từ thị trấn có đường ra biển Đồng Châu, Cồn Vành.

Mùa hè đông khách nhất là cuối tuần, nhất là ở Đồng Châu. Muốn yên tĩnh thì đi ngày thường hoặc mùa thu. Mùa bão, nên theo dõi tin thời tiết, không ra biển khi có cảnh báo.

Giá phòng, giá hải sản thay đổi theo mùa và theo nơi; bài này không ghi con số. Nên hỏi giá trước khi gọi món, chọn nơi có nhiều khách địa phương, và đóng đá cẩn thận nếu mang hải sản đi xa.

Ra Cồn Vành cần đi qua một đoạn đường ven đê và bãi, phụ thuộc con nước; người lạ nên đi cùng người địa phương hoặc hỏi kỹ đường. Mang theo nước, đồ ăn nhẹ, vì ở cồn ít hàng quán.

Đền thờ Nguyễn Công Trứ và nếp nhớ ơn

Ở Tiền Hải có đền thờ Nguyễn Công Trứ, nơi người dân trong huyện tưởng nhớ người đã đưa ông cha họ về mở đất. Đền được tu bổ nhiều lần, có sân, nhà tiền tế, hậu cung, và bảng giới thiệu về cuộc đời ông cùng cuộc khai hoang năm 1828.

Ngày giỗ ông là dịp lễ lớn của huyện, các làng cử người về dâng hương, có tế lễ và sinh hoạt văn hóa. Ngoài ngày giỗ, đền là nơi học sinh trong vùng đến tìm hiểu lịch sử quê hương, cũng là điểm dừng chân của khách đi biển Đồng Châu.

Nguyễn Công Trứ còn được biết đến là nhà thơ với lối hát nói phóng khoáng, và là vị quan trải nhiều thăng trầm. Nhưng với người Tiền Hải, ông trước hết là người cho họ ruộng đất và một cái tên quê. Câu chuyện ấy được kể lại trong nhà, trong trường, qua nhiều thế hệ.

Đến thăm đền, nên ăn mặc gọn gàng, giữ trật tự và đọc kỹ bảng giới thiệu để hiểu thêm về cuộc khai hoang. Những người quan tâm có thể đối chiếu với huyện Kim Sơn ở Ninh Bình, nơi ông lập năm sau đó.

Tiền Hải sau ngày 1/7/2025

Từ 1/7/2025, khi Thái Bình nhập vào tỉnh Hưng Yên và bỏ cấp huyện, Tiền Hải không còn là đơn vị hành chính. Các xã, thị trấn cũ được sắp xếp thành một số xã mới lớn hơn trực thuộc tỉnh Hưng Yên. Tên xã mới và ranh giới nên tra trong danh sách chính thức hoặc hỏi ủy ban xã nơi ở.

Giấy tờ cũ ghi huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vẫn có giá trị. Khi làm thủ tục mới, cơ quan sẽ ghi theo xã mới và tỉnh Hưng Yên; với đất đai, cán bộ sẽ đối chiếu theo thửa đất.

Gần hai thế kỷ sau ngày Nguyễn Công Trứ đặt tên, cái tên Tiền Hải rời khỏi giấy tờ hành chính. Nhưng đền thờ ông, mỏ khí, biển Đồng Châu, Cồn Vành và cách người dân giới thiệu quê mình vẫn giữ tên ấy.

Cùng với Thái Thụy, Tiền Hải là phần ven biển của tỉnh Hưng Yên mới. Với tỉnh mới, đây là vùng có biển, có khí mỏ, có khu kinh tế ven biển, nên được kỳ vọng sẽ có nhiều thay đổi trong những năm tới.

Câu hỏi thường gặp

Huyện Tiền Hải cũ nay thuộc tỉnh nào?

Từ ngày 1/7/2025, huyện Tiền Hải không còn là đơn vị hành chính. Đất huyện cũ chia thành một số xã thuộc tỉnh Hưng Yên mới, sau khi tỉnh Thái Bình nhập vào Hưng Yên theo Nghị quyết 202/2025/QH15.

Ai lập ra huyện Tiền Hải và vào năm nào?

Huyện Tiền Hải do doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập năm 1828 dưới triều Minh Mạng, khi ông chiêu mộ dân nghèo khai khẩn vùng bãi bồi phía đông Kiến Xương.

Tên Tiền Hải có nghĩa là gì?

Tiền Hải có nghĩa là phía trước là biển, phản ánh vị trí của huyện nằm sát biển, trên vùng đất bồi mới khai hoang. Tên này do chính triều đình đặt khi lập huyện năm 1828.

Mỏ khí Tiền Hải dùng vào việc gì?

Khí từ mỏ Tiền Hải được dẫn tới các nhà máy trong khu công nghiệp Tiền Hải, làm nhiên liệu sản xuất gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính và vật liệu xây dựng khác.

Biển Đồng Châu và Cồn Vành khác nhau thế nào?

Đồng Châu là bãi tắm quen thuộc, có nhà nghỉ, hàng quán, đông khách mùa hè. Cồn Vành là dải cồn cát phía nam gần cửa Ba Lạt, hoang sơ hơn và phải theo con nước khi ra.

Tiền Hải có bị gộp với huyện nào năm 1969 không?

Không. Năm 1969 nhiều huyện Thái Bình gộp từng cặp, nhưng Tiền Hải và Kiến Xương giữ nguyên tên. Tiền Hải giữ tên từ năm 1828 đến trước khi bỏ cấp huyện năm 2025.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138