Tỉnh Quảng Nam ngay trước ngày 1/7/2025 có 17 đơn vị cấp huyện: hai thành phố Hội An và Tam Kỳ, thị xã Điện Bàn, cùng 14 huyện Bắc Trà My, Đại Lộc, Đông Giang, Duy Xuyên, Hiệp Đức, Nam Giang, Nam Trà My, Núi Thành, Phú Ninh, Phước Sơn, Quế Sơn, Tây Giang, Thăng Bình, Tiên Phước. Từ 1/7/2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025, Quảng Nam nhập vào thành phố Đà Nẵng, cấp huyện không còn.
Đây là bài mở đầu của danh mục Quảng Nam cũ: tỉnh hình thành qua những lần tách nhập nào, vì sao con số huyện lúc là 18 lúc là 17, các vùng đồng bằng ven biển, trung du và núi cao khác nhau ra sao, và khi giấy tờ còn ghi tên huyện cũ thì nên đọc thế nào. Mỗi huyện, thị xã, thành phố cũ có một bài riêng ngay sau bài này.
Mười bảy đơn vị cấp huyện của Quảng Nam cũ
Bảng liệt kê đủ 17 đơn vị đang tồn tại ngay trước ngày 1/7/2025, chia theo vùng để dễ hình dung. Cột cuối ghi phần chắc chắn: đều thuộc thành phố Đà Nẵng mới; tên phường, xã mới cụ thể nên tra theo từng xã, phường cũ.
| Đơn vị cũ | Loại | Vùng | Ghi chú tên gọi | Từ 1/7/2025 |
|---|---|---|---|---|
| Hội An | Thành phố | Ven biển, cửa sông Thu Bồn | Lên thành phố năm 2008 | TP Đà Nẵng |
| Tam Kỳ | Thành phố | Ven biển phía nam | Tỉnh lỵ từ 1997, lên thành phố năm 2006 | TP Đà Nẵng |
| Điện Bàn | Thị xã | Đồng bằng phía bắc | Lên thị xã năm 2015 | TP Đà Nẵng |
| Duy Xuyên, Thăng Bình, Quế Sơn | Huyện | Đồng bằng và trung du | Quế Sơn nhận lại Nông Sơn từ 1/1/2025 | TP Đà Nẵng |
| Núi Thành, Phú Ninh | Huyện | Ven biển và trung du phía nam | Núi Thành tách từ Tam Kỳ, Phú Ninh lập năm 2005 | TP Đà Nẵng |
| Đại Lộc, Hiệp Đức, Tiên Phước | Huyện | Trung du | Giữ tên đến 2025 | TP Đà Nẵng |
| Đông Giang, Tây Giang | Huyện | Núi cao phía tây bắc | Tách từ huyện Hiên năm 2003 | TP Đà Nẵng |
| Nam Giang, Phước Sơn | Huyện | Núi cao phía tây | Giáp Lào và Kon Tum cũ | TP Đà Nẵng |
| Bắc Trà My, Nam Trà My | Huyện | Núi cao phía tây nam | Tách từ huyện Trà My năm 2003 | TP Đà Nẵng |
Nhìn từ biển vào: Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành nằm trên dải đồng bằng ven biển và dọc quốc lộ 1; Đại Lộc, Quế Sơn, Phú Ninh, Tiên Phước, Hiệp Đức là vùng gò đồi trung du; sáu huyện còn lại là núi cao, nơi phần lớn cư dân là đồng bào Cơ Tu, Giẻ Triêng, Xơ Đăng và các nhóm bản địa khác. Ba vùng này khác nhau từ giọng nói, cách làm nhà tới mùa vụ, nên đọc từng bài huyện sẽ thấy rõ.
Từ đất Chăm Pa đến xứ Quảng của Đàng Trong
Trước khi mang tên Quảng Nam, vùng đất giữa đèo Hải Vân và sông Trà Bồng là trung tâm của các tiểu quốc Chăm Pa. Thánh địa Mỹ Sơn ở Duy Xuyên, kinh thành cũ ở Trà Kiệu, phật viện Đồng Dương ở Thăng Bình, các cụm tháp Bằng An, Chiên Đàn, Khương Mỹ là dấu vết còn đứng được của thời kỳ đó. Người Quảng ngày nay vẫn gọi nhiều gò đất, giếng cổ là “của người Chàm”, và nhiều làng giữ lại tên gốc đã Việt hoá.
Năm 1471, sau cuộc chinh phạt của vua Lê Thánh Tông, vùng đất này được lập thành thừa tuyên Quảng Nam, cái tên được dùng liên tục tới nay. Thế kỷ XVI–XVII, dưới thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam là xứ giàu nhất Đàng Trong: dinh trấn đặt ở Thanh Chiêm bên bờ sông Thu Bồn, còn Hội An là thương cảng nơi thuyền buôn Nhật, Hoa, Bồ Đào Nha, Hà Lan ghé lại theo mùa gió. Câu “Quảng Nam là đất học” có gốc từ thời kỳ này, khi xứ Quảng sinh ra nhiều người đỗ đạt.
Thời nhà Nguyễn, Quảng Nam là một tỉnh lớn, có cả Đà Nẵng nằm trong địa phận huyện Hòa Vang. Cuối thế kỷ XIX, Đà Nẵng bị tách làm nhượng địa của Pháp, còn tỉnh lỵ Quảng Nam đặt ở La Qua, Vĩnh Điện thuộc Điện Bàn. Đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp lan từ xứ Quảng ra cả nước — ba người đều là người Quảng Nam.
Giai đoạn 1962–1975, chính quyền Sài Gòn tách phần phía nam Quảng Nam lập tỉnh Quảng Tín, tỉnh lỵ Tam Kỳ. Nhiều giấy tờ, bia mộ, tư liệu gia đình còn ghi “Quảng Tín”; đó là tên thật của thời đó, gồm phần lớn đất các huyện Thăng Bình, Tiên Phước, Tam Kỳ, Núi Thành, Hiệp Đức về sau.
1976–1996: tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và năm 1997 tái lập
Sau năm 1975, Quảng Nam, Quảng Tín và thành phố Đà Nẵng hợp lại thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, tỉnh lỵ ở Đà Nẵng. Trong hai mươi năm đó, ranh giới các huyện thay đổi nhiều lần: có lúc nhập, có lúc chia, có huyện được lập mới. Một người sinh ở Tam Kỳ năm 1980 sẽ có giấy khai sinh ghi “huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng”, không phải ghi sai mà đúng với lúc đó.
Năm 1983, huyện Tam Kỳ được chia, phần phía nam lập thành huyện Núi Thành. Đây là một trong những thay đổi lớn còn để lại dấu vết trong địa chỉ đến nay. Các huyện miền núi phía tây khi ấy rộng hơn nhiều so với sau này: Hiên bao trùm cả vùng Đông Giang, Tây Giang về sau; Trà My bao trùm cả Bắc và Nam Trà My.
Kỳ họp Quốc hội cuối năm 1996 quyết định chia tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương, có hiệu lực từ ngày 1/1/1997. Tỉnh lỵ Quảng Nam chuyển về Tam Kỳ, khi ấy còn là thị xã. Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa đi theo Đà Nẵng; toàn bộ phần còn lại, từ Điện Bàn trở vào, thuộc Quảng Nam.
Sau năm 1997, bộ máy hành chính của tỉnh phải dựng lại ở một tỉnh lỵ mới, đường sá từ Tam Kỳ lên các huyện núi phải mở thêm, và phần lớn cơ quan cấp tỉnh từng quen đặt ở Đà Nẵng phải chuyển vào. Người Quảng lớn tuổi nhớ giai đoạn này là thời Tam Kỳ đổi khác nhanh nhất.
Các lần chia, nhập huyện từ 2003 đến 2025
Năm 2003, hai huyện miền núi lớn được chia đôi: huyện Hiên thành Đông Giang và Tây Giang, huyện Trà My thành Bắc Trà My và Nam Trà My. Lý do được nêu là địa bàn quá rộng, đường đi từ trung tâm huyện tới các xã xa mất cả ngày. Từ đó cái tên Hiên và Trà My, theo nghĩa đơn vị cấp huyện, không còn trên giấy tờ mới, dù người dân vẫn gọi vùng quế là “quế Trà My”.
Năm 2005, huyện Phú Ninh được lập từ một phần thị xã Tam Kỳ, gồm vùng gò đồi quanh hồ Phú Ninh. Năm 2006, Tam Kỳ lên thành phố. Năm 2008, Hội An lên thành phố, và cũng năm này huyện Nông Sơn được tách ra từ vùng tây của huyện Quế Sơn. Năm 2015, huyện Điện Bàn lên thị xã. Lúc này Quảng Nam có 18 đơn vị cấp huyện, con số mà nhiều tài liệu cũ còn ghi.
Đợt sắp xếp đơn vị hành chính có hiệu lực từ ngày 1/1/2025 nhập huyện Nông Sơn trở lại huyện Quế Sơn. Sau mười bảy năm tách riêng, vùng Nông Sơn lại là một phần của Quế Sơn, và Quảng Nam còn 17 đơn vị cấp huyện. Chính vì vậy danh mục này có 17 bài huyện, không phải 18; Nông Sơn được viết trong bài huyện Quế Sơn.
Ngoài các lần thay đổi cấp huyện, cấp xã cũng có nhiều đợt nhập, đổi tên, nhất là đợt 2019–2021 và đầu năm 2025. Vì vậy một địa chỉ ghi “xã A, huyện B” năm 2010 có khi không còn khớp với địa chỉ của cùng ngôi nhà năm 2024, dù huyện không đổi tên.
Ngày 1/7/2025: nhập vào thành phố Đà Nẵng, bỏ cấp huyện
Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 sắp xếp 63 tỉnh, thành thành 34 đơn vị cấp tỉnh. Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành một đơn vị lấy tên thành phố Đà Nẵng, trực thuộc trung ương, trung tâm hành chính đặt tại Đà Nẵng cũ. Sau gần ba mươi năm tách riêng, đất xứ Quảng lại về một mối như thời Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng tên chung lần này là Đà Nẵng.
Cùng ngày, cả nước bỏ cấp huyện; chính quyền địa phương còn hai cấp là thành phố và xã, phường, đặc khu. Hai thành phố Hội An, Tam Kỳ, thị xã Điện Bàn và 14 huyện của Quảng Nam cũ không còn là đơn vị hành chính. Các xã, phường, thị trấn cũ được sắp xếp lại thành xã, phường mới lớn hơn, trực thuộc thẳng thành phố Đà Nẵng. Vùng núi phía tây trở thành vùng núi của một thành phố trực thuộc trung ương, điều mà trước đây hiếm ai nghĩ tới.
Khi nói về thời gian sau tháng 7/2025, cách viết đúng là “thành phố Tam Kỳ cũ”, “huyện Đại Lộc cũ”. Một số xã, phường mới mang lại tên huyện cũ hoặc tên thị trấn cũ, một số mang tên khác hẳn; nên đừng đoán theo tên. Muốn biết nhà mình thuộc xã, phường mới nào thì tra bảng đối chiếu theo xã, phường cũ do thành phố công bố, hoặc hỏi thẳng ủy ban, công an xã phường nơi cư trú.
Với người Quảng Nam đi làm ăn xa, thay đổi dễ thấy nhất là dòng cuối của địa chỉ: “Quảng Nam” thành “Đà Nẵng”. Mọi thứ còn lại của quê — làng, họ, đình, giọng nói — không đổi theo nghị quyết.
Giấy tờ còn ghi huyện, tỉnh cũ: đọc và xử lý thế nào
Người Quảng ở xa thường gặp ba loại giấy tờ: khai sinh ghi “Quảng Nam – Đà Nẵng” hoặc “Quảng Tín”, sổ đỏ ghi huyện cũ, hồ sơ doanh nghiệp ghi “tỉnh Quảng Nam”. Có thể đi theo thứ tự sau:
- Xem giấy tờ được cấp năm nào: trước 1975 có thể là Quảng Nam hoặc Quảng Tín; 1976–1996 là Quảng Nam – Đà Nẵng; 1997 tới tháng 6/2025 là tỉnh Quảng Nam.
- Đọc tên xã, phường, thị trấn cũ trên giấy — đây là chìa khoá, vì đợt sắp xếp năm 2025 ghép theo xã, phường chứ không ghép nguyên huyện.
- Nếu giấy tờ ghi Nông Sơn, Hiên hay Trà My, nhớ đối chiếu: Nông Sơn nay nằm trong vùng Quế Sơn cũ, Hiên nay là vùng Đông Giang và Tây Giang, Trà My nay là Bắc và Nam Trà My.
- Tra xã, phường cũ đó nay thuộc xã, phường mới nào của thành phố Đà Nẵng bằng bảng đối chiếu chính thức hoặc công cụ tra địa danh đáng tin.
- Theo nguyên tắc chung được công bố khi sắp xếp, giấy tờ đã cấp theo địa danh cũ vẫn còn giá trị; không cần vội đổi chỉ vì tên địa giới thay đổi.
- Làm thủ tục mới thì ghi theo địa danh mới; còn lúng túng thì mang bản gốc tới bộ phận một cửa của xã, phường mới nơi có nhà đất để được hướng dẫn.
Mục quê quán trên giấy tờ tùy thân thường theo dữ liệu dân cư đã đăng ký; việc điều chỉnh, nếu có, theo hướng dẫn của cơ quan công an lúc làm thủ tục. Không tự sửa tay lên bản cũ.
Hai con sông và ba vùng đất của xứ Quảng
Quảng Nam cũ có thể đọc theo hai hệ sông. Phía bắc là sông Vu Gia, gom nước từ các sông Cái, Bung, A Vương, Côn trên núi Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, chảy qua Đại Lộc rồi đổ về Đà Nẵng và Điện Bàn. Phía nam là sông Thu Bồn, bắt nguồn từ vùng núi Ngọc Linh, chảy qua Nam Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức, vùng Nông Sơn, Duy Xuyên rồi ra biển ở Cửa Đại, Hội An. Hai con sông gặp nhau qua sông Quảng Huế ở Đại Lộc, nên lũ của bên này ảnh hưởng thẳng sang bên kia.
Ven biển là dải cát trắng và đồng lúa từ Điện Bàn, Hội An xuống Tam Kỳ, Núi Thành; ở giữa là gò đồi trung du trồng keo, tiêu, cây ăn quả; phía tây là núi cao giáp Lào và Kon Tum cũ, nơi có rừng, quế, sâm. Người Quảng hay nói vui “đất cày lên sỏi đá”, để chỉ vùng gò đồi nghèo nước — câu nói giải thích phần nào vì sao người Quảng đi làm ăn xa nhiều.
Thiên tai là phần không tách khỏi đời sống: bão vào từ biển, lũ từ thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn, mùa mưa dồn vào khoảng tháng 9 đến tháng 12. Ở đồng bằng, nhiều nhà có gác lửng để kê đồ khi nước lên; ở miền núi, sạt lở là nỗi lo lớn mỗi mùa mưa.
Đời sống người Quảng vẫn giữ nếp riêng dễ nhận: giọng Quảng đặc trưng, mì Quảng, bánh tráng, mắm cái, nghệ thuật bài chòi được UNESCO ghi danh năm 2017 cùng các tỉnh Trung Bộ, nhà thờ tộc và giỗ chạp. Mỗi bài huyện trong danh mục này kể những nét riêng của từng vùng, chỉ nêu tên di tích, làng nghề có thật và được người địa phương biết.
Câu hỏi thường gặp
Quảng Nam trước 1/7/2025 có bao nhiêu huyện, thị xã, thành phố?
Có 17 đơn vị cấp huyện: hai thành phố Hội An và Tam Kỳ, thị xã Điện Bàn và 14 huyện. Trước ngày 1/1/2025 con số là 18 vì còn huyện Nông Sơn; từ ngày đó Nông Sơn nhập trở lại huyện Quế Sơn.
Quảng Nam bây giờ thuộc tỉnh, thành nào?
Từ 1/7/2025, theo Nghị quyết 202/2025/QH15, tỉnh Quảng Nam hợp nhất với thành phố Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Quảng Nam không còn là đơn vị cấp tỉnh riêng; trung tâm hành chính đặt tại Đà Nẵng cũ.
Tỉnh Quảng Tín là tỉnh nào?
Quảng Tín là tỉnh do chính quyền Sài Gòn lập năm 1962 từ phần phía nam Quảng Nam, tỉnh lỵ ở Tam Kỳ, tồn tại tới năm 1975. Sau đó đất Quảng Tín thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, rồi thuộc tỉnh Quảng Nam từ năm 1997.
Huyện Hiên và huyện Trà My nay ở đâu?
Năm 2003 huyện Hiên chia thành hai huyện Đông Giang và Tây Giang, huyện Trà My chia thành Bắc Trà My và Nam Trà My. Bốn huyện này tồn tại tới tháng 6/2025; từ 1/7/2025 địa bàn của chúng thuộc các xã của thành phố Đà Nẵng.
Giấy khai sinh ghi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng có cần sửa không?
Không cần. Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng là tên chính thức giai đoạn 1976–1996, giấy tờ cấp trong thời gian đó ghi như vậy là đúng. Theo nguyên tắc chung, giấy tờ đã cấp vẫn có giá trị; làm thủ tục mới thì ghi theo địa danh hiện hành.
Tỉnh lỵ Quảng Nam cũ đặt ở đâu?
Từ năm 1997 tới tháng 6/2025, tỉnh lỵ Quảng Nam đặt tại Tam Kỳ, ban đầu là thị xã, lên thành phố năm 2006. Thời nhà Nguyễn và thời Pháp, tỉnh lỵ ở La Qua, Vĩnh Điện thuộc Điện Bàn; giai đoạn 1976–1996 tỉnh lỵ ở Đà Nẵng.