Huyện Đô Lương là đơn vị cấp huyện trung du ở giữa tỉnh Nghệ An, ngay trước 1/7/2025, giáp Yên Thành, Nghi Lộc ở phía đông, Nam Đàn và Thanh Chương ở phía nam, Anh Sơn ở phía tây, Tân Kỳ ở phía bắc. Huyện được lập năm 1963 từ phần phía đông của huyện Anh Sơn. Từ 1/7/2025, cấp huyện bị bỏ; địa bàn Đô Lương cũ chia thành các xã mới thuộc tỉnh Nghệ An.
Đô Lương là chỗ dòng sông Lam vừa ra khỏi vùng núi để đi vào đồng bằng, cũng là nơi các con đường lớn của tỉnh gặp nhau. Cái đập Bara cũ trên sông, ngôi đền Quả Sơn và cuộc binh biến năm 1941 là ba điều người ta hay kể khi nhắc tới huyện này. Bài viết đi qua từng điều, rồi chỉ cách ghi địa chỉ Đô Lương sau năm 2025.
Huyện lập năm 1963 trên đất phủ Anh Sơn
Trước năm 1963, vùng Đô Lương thuộc huyện Anh Sơn, mà xa hơn là phủ Anh Sơn thời Nguyễn. Năm 1963, tỉnh Nghệ An chia lại các huyện rộng ở miền tây; huyện Anh Sơn được tách làm hai, phần phía đông, đông dân và nhiều đồng ruộng hơn, thành huyện Đô Lương.
Vì có chung gốc với Anh Sơn, phần lớn các xã của Đô Lương cũng có tên kết thúc bằng chữ Sơn: Bồi Sơn, Tràng Sơn, Đà Sơn, Lạc Sơn, Hòa Sơn và nhiều tên khác. Người đọc giấy tờ cũ cần xem kỹ tên huyện để khỏi nhầm một xã Đô Lương với một xã Anh Sơn có tên gần giống.
Huyện lỵ là thị trấn Đô Lương, mọc lên quanh chợ và ngã tư đường lớn. Thời Nghệ Tĩnh 1976–1991, Đô Lương vẫn là huyện, giấy tờ chỉ đổi tên tỉnh. Qua các đợt gộp xã những năm 2019–2025, một số xã nhỏ hợp lại, có nơi mang tên mới.
Những tư liệu, gia phả viết trước năm 1963 có thể ghi “huyện Anh Sơn” cho các làng nay thuộc Đô Lương. Người tra quê quán gốc nên tính tới lớp tên này để không tìm sai huyện, nhất là khi tra hồ sơ lưu trữ thời Pháp hay các giấy tờ của ông bà.
Đập Bara Đô Lương và hệ thống kênh tưới
Đập Đô Lương, người địa phương quen gọi là đập Bara, được xây trên sông Lam từ thời Pháp, khoảng thập niên 1930. Công trình dâng nước sông lên để dẫn vào hệ thống kênh chạy về phía đông, tưới cho đồng ruộng các vùng Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc. Đây là một trong những công trình thủy lợi lớn và lâu đời nhất Bắc Trung Bộ.
Trước khi có đập, đồng ruộng phía đông thường xuyên thiếu nước vào mùa khô, năng suất thấp. Hệ thống kênh từ Bara giúp vùng Yên Thành, Diễn Châu trồng được hai vụ lúa, trở thành vựa lúa của tỉnh. Nhiều thế hệ nông dân xứ Nghệ đã sống nhờ con kênh ấy.
Đập Bara cũng là cảnh quen thuộc của thị trấn Đô Lương. Mùa nước lớn, nước tràn qua mặt đập trắng xóa, người dân ra xem. Mùa khô, mặt sông phía trên đập phẳng lặng, là chỗ người dân tắm, câu cá, giặt giũ.
Qua gần một thế kỷ, đập và kênh đã được sửa chữa, nâng cấp nhiều lần. Việc duy trì công trình cũ, chống sạt lở, nạo vét kênh là chuyện thường xuyên. Khi có lũ lớn, vận hành đập là việc người dân hạ lưu đặc biệt quan tâm.
Đền Quả Sơn thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Đền Quả Sơn nằm dưới chân núi Quả, thuộc vùng Bồi Sơn cũ, thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai vua Lý Thái Tổ. Ông được cử vào trấn trị đất Nghệ An thời Lý, có công khai khẩn đất đai, lập làng, chăm lo đời sống dân. Người dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao ấy.
Đền có kiến trúc cổ, nằm trong khung cảnh núi và cánh đồng, là di tích cấp quốc gia. Lễ hội đền diễn ra hằng năm với các nghi lễ truyền thống, rước kiệu, cùng các hoạt động văn hóa dân gian của làng xã quanh vùng.
Trong ký ức địa phương, Lý Nhật Quang là người đặt nền móng cho việc quản lý vùng đất Nghệ An thời kỳ đầu độc lập. Nhiều làng quanh Đô Lương, Anh Sơn có truyền thuyết về ông, về những cánh đồng được khai phá và những con đường được mở.
Khách đến đền nên đi vào buổi sáng, ăn mặc kín đáo, giữ trật tự trong khu thờ tự. Đây là nơi để hiểu về lịch sử vùng đất, không phải chỗ để tin vào những lời mời cúng lễ xin lộc từ người lạ.
Binh biến Đô Lương năm 1941
Ngày 13/1/1941, một nhóm binh lính người Việt trong quân đội thuộc địa đóng ở đồn Chợ Rạng, Đô Lương, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Văn Cung, thường gọi là Đội Cung, nổi dậy chống Pháp. Họ chiếm đồn, rồi kéo về phía Vinh với ý định chiếm thành phố.
Cuộc binh biến bị đàn áp nhanh chóng. Đội Cung và nhiều người tham gia bị bắt và xử tử. Dù thất bại, sự kiện này cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ năm 1940 được coi là những tiếng súng báo hiệu cho phong trào giành độc lập sau đó.
Ở Đô Lương có di tích, nhà tưởng niệm gắn với cuộc binh biến. Tên Đội Cung được đặt cho đường phố ở nhiều thành phố. Với người Đô Lương, đây là phần lịch sử được dạy và kể lại trong trường học, trong các dịp kỷ niệm.
Người đọc tài liệu cũ về sự kiện này sẽ thấy các địa danh như đồn Chợ Rạng, Đô Lương, đường số 7. Những tên ấy vẫn còn trong ký ức địa phương, dù đơn vị hành chính đã thay đổi nhiều lần.
Ngã tư Đô Lương và vai trò trung tâm
Thị trấn Đô Lương nằm trên quốc lộ 7, là nơi các tuyến đường đi Thanh Chương, Nam Đàn, Tân Kỳ và lên miền tây gặp nhau. Ngã tư Đô Lương vì thế đông xe suốt ngày, xe khách, xe tải, xe máy nối nhau. Chợ Đô Lương là chợ lớn của vùng trung du, nơi hàng hóa đồng bằng và miền núi gặp nhau.
Do vị trí ở giữa tỉnh, Đô Lương là nơi đặt nhiều cơ sở phục vụ cho cả vùng: bệnh viện khu vực, trường học, ngân hàng, cửa hàng lớn. Người từ Anh Sơn, Con Cuông, Thanh Chương, Tân Kỳ thường về Đô Lương mua sắm và khám bệnh thay vì đi Vinh.
Từ Đô Lương xuống Vinh không quá xa, đường đi qua Nam Đàn hoặc Nghi Lộc. Từ đây ra quốc lộ 1 ở Diễn Châu theo quốc lộ 7. Vị trí này làm cho Đô Lương trở thành điểm chuyển tiếp quan trọng giữa miền xuôi và miền ngược.
Thị trấn đông đúc nên có nhiều quán ăn, trong đó các món quen thuộc của xứ Nghệ như cháo lươn, bánh mướt, bún, cá sông Lam kho. Buổi sáng ở chợ Đô Lương là lúc nhộn nhịp nhất, khi người các xã đổ về bán rau, trứng, gà, cá.
Đồng ruộng, đồi và nghề ven sông
Đô Lương có cả đồng bằng ven sông lẫn đồi núi thấp. Vùng ven sông Lam và các con kênh trồng lúa, ngô, lạc, rau màu; vùng đồi trồng keo, chè, cây ăn quả. Chăn nuôi bò, lợn, gà là nguồn thu phụ của nhiều hộ.
Sông Lam ở đoạn Đô Lương có nhiều bãi bồi, cát, sỏi. Nghề đánh cá sông, khai thác cát đã tồn tại lâu đời. Việc khai thác cát quá mức gây sạt lở bờ là chuyện người dân ven sông hay phản ánh, nhất là vào mùa lũ.
Như nhiều huyện xứ Nghệ, Đô Lương có rất đông người đi làm ăn xa, đặc biệt là đi lao động ở nước ngoài. Tiền gửi về đã làm thay đổi bộ mặt nhiều làng quê, với những ngôi nhà nhiều tầng mọc lên giữa ruộng lúa.
Làng quê Đô Lương vẫn giữ đình, đền, nhà thờ họ và lễ hội đầu xuân. Dân ca ví, giặm vẫn được hát trong các dịp sinh hoạt cộng đồng, các câu lạc bộ dân ca được duy trì ở nhiều xã.
Ghé Đô Lương: vài điều người lạ nên biết
Người đi quốc lộ 7 lên miền tây thường đi qua Đô Lương mà không dừng, nhưng đây là chỗ nghỉ chân hợp lý: có chợ, quán ăn, cây xăng, nhà nghỉ, trạm y tế và các cửa hàng sửa xe. Từ Đô Lương trở lên, các thị trấn thưa dần, nên đây là nơi nên đổ xăng, mua nước, kiểm tra xe trước khi đi tiếp lên Anh Sơn, Con Cuông.
Buổi chiều, có thể ra khu vực đập Bara xem nước chảy qua mặt đập, hoặc ra bờ sông Lam ngắm hoàng hôn. Mùa lũ không nên xuống sát mép nước hay đứng trên các bãi cát dưới chân đập, vì nước lên rất nhanh và dòng chảy mạnh.
Đền Quả Sơn cách thị trấn không xa, đi xe máy là tới. Nên hỏi đường người địa phương vì các ngả đường làng khá nhiều, biển chỉ dẫn không phải chỗ nào cũng có. Đi vào buổi sáng sẽ tránh được nắng gắt và gió Lào mùa hè.
Giọng Đô Lương mang đậm chất Nghệ vùng trung du. Người nơi khác nghe chưa quen cứ hỏi lại; người địa phương thẳng tính, nói nhanh nhưng nhiệt tình chỉ đường và sẵn lòng mời khách bát nước chè xanh.
Đô Lương cũ từ 1/7/2025
Từ 1/7/2025, huyện Đô Lương thôi là đơn vị hành chính. Thị trấn và các xã cũ được sắp xếp thành một số xã mới thuộc thẳng tỉnh Nghệ An. Tên Đô Lương vẫn được dùng cho một xã mới ở vùng trung tâm cũ theo cách đặt tên phổ biến, nhưng bài này không liệt kê chi tiết từng xã vì chưa đối chiếu đủ.
Địa chỉ trước kia có dạng: xóm, xã cũ, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nay có dạng: xóm, xã mới, tỉnh Nghệ An. Khi gửi hàng nên ghi thêm tên xã cũ và chú thích “trước là huyện Đô Lương” để người giao hàng định vị đúng.
Giấy tờ cấp trước 1963 có thể ghi huyện Anh Sơn, giấy tờ 1976–1991 ghi tỉnh Nghệ Tĩnh. Tất cả đều có giá trị theo thời điểm cấp. Khi làm thủ tục mới, chỉ cần khai tên xã mới và tỉnh Nghệ An.
Người cần xác nhận địa chỉ cũ và mới là một, ví dụ cho hồ sơ đất, hồ sơ ngân hàng hay hồ sơ lao động ở nước ngoài, có thể đề nghị ủy ban xã nơi cư trú xác nhận.
Câu hỏi thường gặp
Huyện Đô Lương được lập năm nào?
Huyện Đô Lương được lập năm 1963, tách từ phần phía đông của huyện Anh Sơn. Trước đó vùng này thuộc huyện Anh Sơn, và xa hơn là phủ Anh Sơn thời Nguyễn.
Huyện Đô Lương nay thuộc đâu?
Từ 1/7/2025, huyện Đô Lương không còn là đơn vị hành chính. Địa bàn huyện cũ chia thành các xã mới thuộc tỉnh Nghệ An, tỉnh này giữ nguyên tên và không sáp nhập.
Đập Bara Đô Lương có tác dụng gì?
Đập dâng nước sông Lam để dẫn vào hệ thống kênh tưới cho đồng ruộng Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc. Nhờ đó vùng đồng bằng phía đông trồng được hai vụ lúa mỗi năm.
Binh biến Đô Lương xảy ra khi nào?
Binh biến Đô Lương xảy ra ngày 13/1/1941, do binh lính người Việt ở đồn Chợ Rạng dưới sự chỉ huy của Đội Cung nổi dậy chống Pháp. Cuộc binh biến bị đàn áp nhưng để lại dấu ấn lịch sử.
Đền Quả Sơn thờ ai?
Đền Quả Sơn thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con vua Lý Thái Tổ, người được cử trấn trị đất Nghệ An thời Lý. Đền nằm dưới chân núi Quả, là di tích cấp quốc gia.
Vì sao xã ở Đô Lương và Anh Sơn đều có chữ Sơn?
Hai huyện từng chung một phủ, một huyện Anh Sơn trước năm 1963. Khi chia huyện, các xã giữ nguyên tên, nên chữ Sơn có ở cả hai bên. Muốn phân biệt phải xem tên huyện trên giấy tờ.