Bắc Trà My là huyện miền núi phía tây nam tỉnh Quảng Nam cũ, được lập năm 2003 khi huyện Trà My chia thành Bắc Trà My và Nam Trà My; trung tâm huyện là thị trấn Trà My. Vùng này nổi tiếng với quế Trà My, với sông Tranh và hồ thủy điện Sông Tranh 2. Từ 1/7/2025, cấp huyện bị bỏ, địa bàn Bắc Trà My cũ nay thuộc một số xã của thành phố Đà Nẵng.
Với nhiều người Quảng, “lên Trà My” nghĩa là đi núi xa. Bài này viết về vị trí, lịch sử tên gọi, rừng quế, đồng bào bản địa, đường đi và cách ghi địa chỉ Bắc Trà My cũ sau 7/2025.
Từ huyện Trà My đến Bắc Trà My
Trước năm 2003, Trà My là một huyện miền núi rất rộng, trải từ vùng giáp Tiên Phước, Hiệp Đức lên tới khối núi Ngọc Linh giáp Kon Tum. Đường từ trung tâm huyện tới các xã xa có khi mất cả ngày đi bộ, mùa mưa thì cách biệt hẳn. Năm 2003, huyện được chia làm hai: phần phía bắc gần đồng bằng thành Bắc Trà My, phần phía nam sâu trong núi thành Nam Trà My.
Bắc Trà My giữ thị trấn Trà My làm trung tâm, nơi trước đó cũng là trung tâm huyện Trà My cũ. Vì vậy nhiều cơ quan, trường, bệnh viện có từ thời Trà My cũ vẫn nằm ở đây. Tên “Trà My” do đó vẫn hiện diện trong đời sống: thị trấn Trà My, quế Trà My, chợ Trà My.
Giấy tờ của người dân vùng này cấp trước năm 2003 sẽ ghi “huyện Trà My”; từ 2003 tới tháng 6/2025 ghi “huyện Bắc Trà My” hoặc “huyện Nam Trà My” tùy xã. Khi tra địa chỉ cũ, cần xem tên xã để biết thuộc bên nào.
Thời chiến tranh, vùng núi Trà My là căn cứ của kháng chiến, nhiều cơ quan của tỉnh từng đóng trong rừng, và người dân các làng góp gạo, góp sức. Ký ức này vẫn được kể trong các gia đình, và một số địa điểm được giữ làm di tích lịch sử. Sau năm 1975, nhiều gia đình người Kinh từ đồng bằng lên Trà My lập nghiệp, sống xen với các làng bản địa.
Địa hình: núi, sông Tranh và hồ thủy điện
Bắc Trà My là vùng núi trung bình và núi cao, độ cao tăng dần về phía tây nam. Sông Tranh, một nhánh lớn của hệ Thu Bồn, chảy qua huyện theo hướng nam bắc rồi xuống Hiệp Đức, Tiên Phước. Dọc sông là các thung lũng nhỏ có ruộng lúa nước, còn trên sườn núi là rẫy, vườn quế, rừng tự nhiên và rừng trồng.
Hồ thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên địa bàn huyện, là một trong những công trình thủy điện lớn của miền Trung. Khi hồ tích nước, một số làng phải di dời lên chỗ cao, đời sống người dân thay đổi đáng kể. Những năm đầu sau khi tích nước, khu vực quanh hồ ghi nhận nhiều trận động đất nhỏ, khiến người dân lo lắng; các cơ quan chuyên môn đã theo dõi, quan trắc, và câu chuyện này được báo chí đưa tin nhiều.
Khí hậu Bắc Trà My mát hơn đồng bằng, mưa nhiều, mùa mưa kéo dài. Sạt lở đất, lũ quét là nỗi lo lớn nhất của các làng trên sườn núi. Người địa phương theo dõi thời tiết rất kỹ vào khoảng tháng 9 đến tháng 12.
Rừng ở Bắc Trà My còn khá nhiều so với các huyện trung du, nhưng đã mỏng đi so với trước. Việc giữ rừng đầu nguồn được nhắc nhiều vì liên quan trực tiếp tới lũ ở hạ lưu Thu Bồn, nơi có Hội An và Duy Xuyên. Nhiều thôn nhận khoán bảo vệ rừng, tuần tra theo nhóm, đó cũng là một nguồn thu nhỏ của người dân.
Quế Trà My: cây của rừng và của nhà
Quế Trà My là sản vật nổi tiếng nhất của vùng, từ lâu đã được biết đến trong cả nước. Vỏ quế dày, thơm, cay, được dùng làm gia vị, làm thuốc nam và xuất bán đi xa. Người địa phương phân biệt quế rừng và quế vườn, quế già nhiều năm và quế non, mỗi loại một giá trị khác nhau.
Nghề trồng quế gắn với đời sống của đồng bào bản địa: trồng quế trên rẫy, chăm vài chục năm, đến khi cây đủ tuổi mới bóc vỏ. Có những vườn quế là tài sản cả đời của một gia đình, được để lại cho con cháu như của hồi môn. Vào mùa bóc vỏ, cả làng đi vào vườn, phơi quế trên sân, mùi quế bay khắp thôn.
Ngoài quế, Bắc Trà My còn có măng, mật ong rừng, các loại dược liệu, và trồng keo, cao su. Ở vùng thấp có lúa nước, bắp, sắn. Trong những năm gần đây, chính quyền và người dân tìm cách giữ thương hiệu quế Trà My, tránh nhầm lẫn với quế từ nơi khác.
Người Ca Dong, Xơ Đăng và nếp làng
Phần lớn cư dân bản địa ở Bắc Trà My là người Ca Dong, một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng, cùng người Kor (Cor), người Mơ Nâm và các nhóm khác. Người Kinh sống chủ yếu ở thị trấn Trà My và dọc các trục đường, buôn bán, làm dịch vụ, làm công chức.
Làng Ca Dong truyền thống dựng nhà sàn, có nhà chung của làng, có lễ hội mùa màng, lễ mừng lúa mới. Cồng chiêng là phần không tách khỏi lễ hội; nhiều bộ chiêng được mua từ làng đúc đồng Phước Kiều dưới đồng bằng. Trang phục truyền thống, nghề dệt thổ cẩm, đan lát vẫn còn được giữ ở một số làng.
Người ngoài vào làng nên đi cùng người địa phương hoặc cán bộ thôn, hỏi trước khi chụp ảnh, nhất là vào ngày lễ. Đây là phép lịch sự đơn giản nhưng được người làng đánh giá cao.
Trong vài chục năm gần đây, đời sống ở các làng thay đổi khá nhiều: nhà sàn gỗ dần thay bằng nhà xây, thanh niên xuống đồng bằng hoặc vào Nam làm thuê, trẻ em đi học ở trường bán trú. Nhưng tiếng nói, lễ cúng lúa, cách chia sẻ thịt trong làng khi có lễ vẫn được giữ, và người lớn tuổi vẫn dạy con cháu nhận ra từng loại cây thuốc trong rừng.
Một năm ở Bắc Trà My: mùa rẫy, mùa quế, mùa mưa
Nhịp sống ở Bắc Trà My đi theo mùa. Đầu năm, sau Tết, người làng lên rẫy phát dọn, đốt rẫy theo cách được phép, chuẩn bị gieo lúa rẫy, bắp. Khoảng giữa năm, khi trời khô hơn, là mùa bóc vỏ quế ở nhiều vườn; quế được phơi trên sân, trên mái, người buôn từ dưới xuôi lên tận làng thu mua.
Từ khoảng tháng 9, mùa mưa bắt đầu dày, đường lên các xã xa dễ sạt, nhiều người ở yên trong làng, làm việc nhà, đan lát, sửa nhà sàn. Cuối năm là mùa thu hoạch lúa rẫy và các lễ mừng lúa mới ở nhiều làng, cũng là dịp người đi làm xa trở về.
Chợ thị trấn Trà My họp hằng ngày, là nơi người làng mang quế, măng, mật ong, rau rừng xuống bán và mua về muối, dầu ăn, vải vóc. Phiên chợ đông nhất thường vào buổi sáng; người ngoài muốn gặp đủ sản vật của vùng nên đến sớm.
Đường lên Bắc Trà My
Từ Tam Kỳ lên Bắc Trà My, đường phổ biến là đi theo hướng tây qua Phú Ninh, Tiên Phước rồi vào thị trấn Trà My. Đường đèo dốc, nhiều khúc cua, mùa mưa có thể sạt lở. Từ thị trấn Trà My có đường đi tiếp lên Nam Trà My và sang Kon Tum cũ qua vùng Ngọc Linh.
Một hướng khác là từ Hiệp Đức đi ngược lên theo vùng sông Tranh, nhưng đoạn này ít người lạ đi hơn. Dù đi hướng nào, quãng đường cuối vào thị trấn đều là đường núi, nên tính thời gian rộng rãi và không chạy nhanh ở các khúc cua khuất.
Xe khách tuyến Tam Kỳ – Trà My có chạy, nhưng giờ chạy và hãng xe thay đổi theo thời gian, nên hỏi tại bến xe trước khi đi. Người địa phương chủ yếu đi xe máy. Lên các xã xa trong mùa mưa nên hỏi trước tình hình đường, không đi khi có cảnh báo sạt lở.
Khi cần ở lại, thị trấn Trà My có nhà nghỉ, quán ăn. Ở các xã, chỗ nghỉ hạn chế, nên chuẩn bị trước nếu có việc ở lâu: mang theo áo mưa, thuốc men cơ bản, sạc dự phòng vì sóng điện thoại ở một số thôn còn yếu. Nếu đi bằng ô tô con, nên chọn xe gầm cao và tránh đi vào chiều tối, vì sương mù xuống nhanh trên đường đèo.
Từ 1/7/2025: Bắc Trà My cũ nay thuộc đâu
Từ ngày 1/7/2025, huyện Bắc Trà My không còn là đơn vị hành chính. Thị trấn Trà My và các xã cũ của huyện được sắp xếp thành một số xã mới trực thuộc thành phố Đà Nẵng. Một vùng núi sâu như Bắc Trà My nay là một phần của thành phố trực thuộc trung ương, điều mà người dân bàn nhiều.
Khi ghi địa chỉ, nên viết “xã mới, thành phố Đà Nẵng” và ghi kèm tên xã, huyện cũ trong ngoặc nếu biểu mẫu cho phép, để người tiếp nhận dễ đối chiếu. Tên xã mới cụ thể nên tra theo xã cũ trên giấy tờ bằng bảng đối chiếu chính thức.
Với giấy tờ ghi “huyện Trà My” (trước 2003) hay “huyện Bắc Trà My” (2003–2025), theo nguyên tắc chung vẫn còn giá trị. Có vướng mắc thì hỏi bộ phận một cửa của xã mới nơi cư trú.
Với người dân ở các thôn xa, việc đi làm giấy tờ vốn đã vất vả vì đường núi. Trước khi xuống trung tâm xã mới, nên gọi hỏi trước cán bộ thôn hoặc cán bộ xã để biết cần mang những giấy gì, tránh phải đi lại nhiều lần trong mùa mưa.
Câu hỏi thường gặp
Huyện Bắc Trà My được lập năm nào?
Huyện Bắc Trà My được lập năm 2003, khi huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam chia thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My. Trung tâm huyện là thị trấn Trà My, nơi trước đó là trung tâm huyện Trà My cũ.
Bắc Trà My bây giờ thuộc đâu?
Từ 1/7/2025, Bắc Trà My thuộc thành phố Đà Nẵng, do tỉnh Quảng Nam hợp nhất với Đà Nẵng. Cấp huyện không còn, địa bàn cũ chia thành một số xã của Đà Nẵng; tên xã mới nên tra theo xã cũ.
Quế Trà My trồng ở huyện nào?
Quế Trà My trồng chủ yếu ở vùng núi Bắc Trà My và Nam Trà My cũ, tức đất huyện Trà My trước năm 2003. Đây là sản vật truyền thống, gắn với đời sống đồng bào bản địa, được bóc vỏ khi cây đủ nhiều năm tuổi.
Thủy điện Sông Tranh 2 nằm ở đâu?
Thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên sông Tranh, thuộc địa bàn huyện Bắc Trà My cũ. Hồ chứa rộng, khi tích nước một số làng phải di dời. Khu vực từng ghi nhận nhiều trận động đất nhỏ những năm đầu tích nước.
Người Ca Dong là dân tộc nào?
Người Ca Dong là một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng, sống nhiều ở vùng Bắc Trà My và Nam Trà My cũ. Họ giữ nhà sàn, cồng chiêng, lễ mừng lúa mới và nghề trồng quế trên rẫy.
Đi từ Tam Kỳ lên Bắc Trà My thế nào?
Đường quen là đi về hướng tây qua Phú Ninh, Tiên Phước rồi vào thị trấn Trà My, đường núi nhiều khúc cua. Có xe khách tuyến Tam Kỳ – Trà My nhưng giờ chạy thay đổi, nên hỏi bến xe trước khi đi.